Đáp án đề thi thử tốt nghiệp môn Văn trường THPT Chuyên Nguyễn Trãi, Hải Dương

Dưới đây là gợi ý đáp án đề thi thử tốt nghiệp môn Văn năm 2021 lần 1 trường THPT Chuyên Nguyễn Trãi, Hải Dương mời bạn đọc tham khảo.

I. Đáp án phần Đọc – Hiểu đề thi thử tốt nghiệp THPT 2021 môn Ngữ Văn trường Nguyễn Trãi

Câu 1. Phương thức biểu đạt chính: nghị luận

Câu 2. Mặt tích cực của thất bại mà những người thành công luôn dùng: coi thất bại như là một công cụ để học hỏi và hoàn thiện bản thân

Câu 3. Việc trích dẫn các câu chuyện của Thomas Edison, J.K.Rowling, Ngôi sao điện ảnh Thành Long có tác dụng đối với lập luận của tác giả:

  • Là dẫn chứng minh họa cho luận điểm: người thành công luôn dùng thất bại như một công cụ để học hỏi và hoàn thiện bản thân.
  • Tăng sức thuyết phục cho lập luận của tác giả, khẳng định sự cần thiết của việc rút kinh nghiệm từ những lần thất bại.

Câu 4.

– HS có thể đồng tình/ phản đối/ đồng tình một phần

  • Đồng tình vì: Khi thất bại, con người càng khao khát thành công nên sẽ nỗ lực hành động hơn nữa. Ngoài ra, thất bại cũng giúp con người có được những bài học bổ ích để tăng khả năng thành công ở những lần sau.
  • Phản đối vì: Thất bại dễ tạo cảm giác chán nản, mất niềm tin vào bản thân và mọi người, không còn nhiệt tình và nỗ lực hành động nữa…
  • Đồng tình một phần: kết hợp hai cách lí giải trên

II. Đáp án phần Làm văn đề thi thử tốt nghiệp THPT 2021 môn Ngữ Văn trường Nguyễn Trãi

Câu 1:

a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn

Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, qui nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: sự cần thiết phải biết chấp nhận thất bại trong cuộc sống.

c. Triển khai vấn đề cần nghị luận

Thí sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng phải làm rõ sự cần thiết phải biết chấp nhận thất bại trong cuộc sống.

Có thể theo hướng:

– Chấp nhận thất bại là gì? Là thừa nhận những điều mình chưa làm được mà không né tránh,phủ nhận nó.

– Biểu hiện: không ảo tưởng, không rơi vào trạng thái hoang mang lo sợ khi không đạt được điều mong muốn.

– Sự cần thiết phải chấp nhận thất bại:

  • Là nhận thức đúng về quy luật của cuộc sống: con đường đến với thành công không dễ dàng, đơn giản mà phải trải qua nhiều khó khăn, thử thách
  • Giúp con người tìm lại sự thanh thản, bình yên trong lòng sau một quá trình nỗ lực hành động nhưng không đạt mục tiêu đề ra.
  • Giúp con người có khả năng nhìn nhận khách quan những mặt còn hạn chế của bản thân, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm, tìm ra những phương cách khắc phục, sửa chữa.

– Bài học: Cần biết chấp nhận thất bại để vươn lên, đạt thành công trong tương lai.

d. Chính tả, ngữ pháp và sự sáng tạo

  • Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt
  • Có những cách kiến giải mới mẻ.

Câu 2:

a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận

Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề.

b. Xác định đúng vấn đề nghị luận:

Hình tượng Sông Đà trong hai đoạn trích

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm

Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng, đảm bảo các yêu cầu sau:

* Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Tuân và tùy bút “Người lái đò Sông Đà”.

Nguyễn Tuân là nhà văn có phong cách nghệ thuật độc đáo, sở trường về thể tùy bút.

Tùy bút “Người lái đò Sông Đà” là kết quả của chuyến đi thực tế lên Tây Bắc năm 1958 của tác giả với mục đích phát hiện và ngợi ca “chất vàng” của thiên nhiên và “chất vàng mười đã qua thử lửa trong tâm hồn người lao động”.

Trong tùy bút này, tác giả đã tập trung khắc họa vẻ đẹp của hình tượng Sông Đà với hai nét tính cách đối lập nhau: hung bạo và trữ tình. Điều đó được thể hiện qua những đoạn văn miêu tả quang cảnh đôi bờ

* Cảm nhận hình tượng Sông Đà trong hai đoạn trích

Đoạn văn 1:

  • Vị trí: nằm ở phần đầu đoạn trích, miêu tả tính cách hung bạo của Sông Đà qua quang cảnh bờ sông.
  • Hung bạo của Sông Đà được gợi ra từ cảnh đá bờ sông dựng vách thành thẳng đứng như bức tường thành che khuất ánh sáng nên “mặt sông lúc đúng ngọ mới có mặt trời”.
  • Lòng sông trở nên hẹp và sâu. Độ sâu đó được tác giả ước lượng bằng thị giác: “nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách”… và dùng một hình ảnh của cảm giác: “Ngồi trong khoang đò…đèn điện”. Câu văn là kết quả của sự liên tưởng, so sánh độc đáo, bất ngờ. Qua đó khắc sâu ấn tượng về sự dữ dội của dòng sông và cảm giác ớn lạnh của lòng người trước sức mạnh tự nhiên.

-> Đoạn văn thể hiện năng lực quan sát tinh tế, trí tưởng tượng phong phú và ngôn từ giàu sức tạo hình của tác giả.

Câu văn ngắn, ngắt nhịp và co duỗi linh hoạt.

Đoạn văn 2:

  • Vị trí: nằm ở phần cuối đoạn trích, miêu tả vẻ đẹp trữ tình của dòng sông qua cảnh vật đôi bờ.
  • Cảnh vật bên bờ sông mang vẻ đẹp của một sự sống mới bắt đầu: non tơ, tinh khiết. Tác giả đã khéo chọn những hình ảnh gợi ra vẻ tươi non, mỡ màng của cỏ cây như: “cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp, đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm…”. Bức tranh khung cảnh thấm đẫm chất thơ và họa được vẽ bằng cả tâm hồn rộng mở với thiên nhiên.
  • Khung cảnh yên tĩnh như ngưng đọng thời gian để tác giả nảy sinh những liên tưởng tới quá khứ: “Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi”. Suy tư hướng nội kết hợp so sánh liên tưởng độc đáo, bất ngờ.
  • Thiên nhiên hiền hòa, thanh bình như thuộc về một thế giới khác: “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”. Phép so sánh độc đáo, dùng không gian để gợi mở thời gian, mở rộng biên độ làm nổi bật vẻ đẹp hồn nhiên, trong sáng, nguyên thuỷ của buổi sơ khai. Trong khung cảnh êm đềm đó, con người và thiên nhiên như có mối giao cảm, để tác giả tưởng tượng đến tiếng nói riêng của con vật lành:“ Hỡi ông khách Sông Đà, có phải ông vừa nghe thấy một tiếng còi sương?”
  • Trước vẻ thanh bình của cảnh vật, tác giả thể hiện suy tư hướng nội: khao khát được thấy sự hiện diện của văn minh cơ khí để dòng sông phục vụ tốt hơn cho cuộc sống của con người: “Chao ôi, thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp – lê…”

– > Đoạn văn sử dụng nhiều hình ảnh so sánh, liên tưởng bất ngờ thú vị, cấu trúc câu văn trùng điệp. Từ ngữ chọn lọc, độc đáo, gieo vần ngắt nhịp như thơ. Hình ảnh lãng mạn, bay bổng. Sử dụng kiến thức hội hoạ, thơ ca để miêu tả. Tất cả đã giúp Nguyễn Tuân tái hiện được vẻ trữ tình và thơ mộng của Sông Đà.

* Đánh giá:

– Hai đoạn văn thể hiện sự vận động của hình tượng Sông Đà: dòng sông hùng vĩ, thác ghềnh giữa đại ngàn Tây Bắc nhưng lại rất đỗi trữ tình, thơ mộng, từ đó làm nổi bật hai nét tính cách đối lập: hung bạo và trữ tình. Đó cũng chính là “chất vàng” của thiên nhiên Tây Bắc mà tác giả đã cất công tìm kiếm.

– Đặc sắc phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân: tài hoa, uyên bác, với những trang viết đầy trí tuệ về vẻ đẹp cảnh sắc non sông, đất nước.

d. Chính tả, ngữ pháp

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt

e. Sáng tạo

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ.

Nguồn: GVBM trường THPT chuyên Nguyễn Trãi (Hải Dương)

Xem thêm: Đề thi thử tốt nghiệp THPT 2021 môn Văn lần 1 của Sở GD&ĐT Lạng Sơn

Rate this post

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.